I. QUAN ĐIỂM, ĐƯỜNG LỐI,
CHỦ TRƯƠNG CỦA ĐẢNG VỀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
1. Cơ sở hình thành
Vấn đề tôn giáo qua các giai đoạn cách
mạng luôn là vấn đề chiến lược có tầm quan trọng đặc biệt. Vì vậy, Đảng và Nhà
nước ta có nhiều chủ trương chính sách đối với tôn giáo cụ thể:
1.1
Tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Lê - nin đối với Cách mạng Tháng Mười Nga về
vấn đề tôn giáo
Lê - nin đã căn dặn mọi cán bộ công chức thuộc quyền phải “cực kỳ
thận trọng trong công tác đấu tranh chống lại các thành kiến tôn giáo. Trong
cuộc đấu tranh này, ai làm tổn thương đến tình cảm tôn giáo thì người đó gây ra
một sự thiệt hại lớn lao vì các hoạt động như vậy chỉ làm chia rẽ trong quần
chúng tôn giáo mà sức mạnh của chúng ta là cơ sở đoàn kết”.
1.2 Vận dụng tư tưởng, quan điểm chỉ đạo của Lê -
nin về vấn đề tôn giáo vào Cách mạng Việt Nam
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công,
nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam
Á, đã kịp thời ban hành chính sách đối với tôn giáo (trong lúc thù trong giặc
ngoài với một nước còn non trẻ vận mệnh đất nước ngàn cân treo sợi tóc). Nhưng
ngay phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời do Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trì
trong sáu công việc cấp bách của đất nước bàn tại Hội nghị thì có vấn đề về tôn
giáo. Tại phiên họp này Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố: “thực dân phong kiến tìm cách chia rẽ đồng bào lương với đồng bào giáo
để cai trị, tôi đề nghị Chính phủ ta tuyên bố tín ngưỡng tự do, lương giáo đoàn
kết”. Sau đó, Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Việt Nam mới đã
khẳng định quyền tự do tín ngưỡng là một trong năm quyền cơ bản của công dân.
Sắc lệnh số 234/SL ngày 16/6/1955 Sắc lệnh của Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa về tôn giáo do Chủ tịch Hồ Chí Minh ban hành, nêu rõ “Chính phủ đảm bảo
quyền tự do tín ngưỡng, tự do thờ cúng của Nhân dân. Không ai được xâm phạm
quyền tự do ấy. Mỗi người Việt Nam
đều có quyền tự do theo một tôn giáo hoặc không theo một tôn giáo nào”.
Nhà tu hành được tự do giảng đạo tại
các cơ sở tôn giáo (như nhà thờ, chùa, thánh thất, trường giáo lý…). Khi truyền
bá tôn giáo, các nhà tu hành có nhiệm vụ giáo dục cho tín đồ lòng yêu nước,
nghĩa vụ của người công dân, ý thức tôn trọng chính quyền dân chủ và pháp luật
của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa phải làm mọi nghĩa vụ của người công
dân….các nhà thờ, đền chùa, miếu, thánh thất và các đồ thờ, các trường giáo lý
của các tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Pháp luật sẽ trừng trị những kẻ nào
mượn danh nghĩa tôn giáo để phá hoại hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ,
tuyên truyền chiến tranh, phá hoại sự đoàn kết, ngăn trở tín đồ làm nghĩa vụ
công dân, xâm phạm đến tự do tín ngưỡng và tự do tư tưởng của người khác, hoặc
làm những điều trái pháp luật. Sau ngày miền Nam được giải phóng, đất nước thống
nhất Hội đồng Chính phủ có Nghị quyết số 297/NQ-HĐBT ngày 11/11/1977 “về một số
chính sách về tôn giáo”. Kế thừa tư tưởng của Sắc lệnh số 234, Nghị quyết số
297 nêu rõ 05 chính sách của tôn giáo là:
- “Chính phủ đảm bảo quyền tự do tín
ngưỡng và không tín ngưỡng của Nhân dân”.
- Các nhà tu hành và tín đồ các tôn giáo đều được hưởng mọi
quyền lợi và phải làm mọi nghĩa vụ của người công dân.
- Các tôn giáo và mọi công dân theo
đạo hoặc không theo đạo đều bình đẳng trước pháp luật.
- Các tôn giáo phải tuân thủ Hiến
pháp, pháp luật và chủ trương, chính sách, thể lệ của Nhà nước trong mọi lĩnh
vực hoạt động của mình.
- Những kẻ lợi dụng tôn giáo để phá
hoại nền độc lập của Tổ quốc, chống lại chế độ XHCN, phá hoại khối đoàn kết
toàn dân, ngăn cản tín đồ làm nghĩa vụ công dân, chống lại chính sách pháp luật
của Nhà nước sẽ bị pháp luật nghiêm trị”.
Trong thời kỳ đất nước bước vào đổi mới toàn
diện trên các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội với Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày
16/10/1990 của Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng về việc “tăng cường
công tác tôn giáo trong tình hình mới”. Sau 13 năm thực hiện chính sách đổi mới
công tác tôn giáo Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX đã ban hành Nghị quyết
số 25/NQ-TW, ngày 12/3/2003 về công tác tôn giáo trong tình hình mới với phương
hướng và quan điểm chủ trương đối với tín ngưỡng, tôn giáo cụ thể:
2. Về phương hướng
Hoạt động tôn giáo và công tác tôn giáo trong giai đoạn mới phải
nhằm tăng cường đoàn kết đồng bào các tôn giáo trong khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, phát huy sức mạnh của toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước, xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
3. Về quan điểm chủ
trương
+
Một là: Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận Nhân dân
đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng CNXH ở nước ta. Đồng
bào các tôn giáo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thực hiện nhất quán chính sách tôn
trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng theo hoặc không theo một tôn giáo nào,
quyền sinh hoạt tôn giáo bình thường theo đúng pháp luật. Các tôn giáo hoạt
động trong khuôn khổ pháp luật, bình đẳng trước pháp luật (quan điểm này khẳng
định đồng bào có đạo đi theo CNXH, dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN vẫn yên tâm giữ
đạo, xây dựng CNXH không đồng nghĩa với việc xóa đạo)
+ Hai là: Đảng và Nhà nước thực
hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết dân tộc, không phân biệt đối xử vì lý do
Tín ngưỡng, tôn giáo (các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật và hoạt động
trong khuôn khổ pháp luật, đoàn kết đồng bào các tôn giáo khác nhau và đồng bào
không theo tôn giáo. Phát huy những giá trị tích cực của truyền thống thờ cúng
tổ tiên, tôn vinh những người có công với Tổ quốc và nhân dân. Nghiêm cấm sự
phân biệt đối xử với công dân vì lý do Tín ngưỡng, tôn giáo. Đồng thời nghiêm
cấm lợi dụng Tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động mê tín dị đoan, hoạt động trái
pháp luật và chính sách của Nhà nước, kích động gây chia rẽ Nhân dân, chia rẽ
các dân tộc, gây rối, xâm phạm an ninh quốc gia
+
Ba là: Nội dung cốt lõi của công tác tôn giáo là công tác vận động quần
chúng, xuất phát từ 03 cơ sở sau:
- Mối quan hệ gắn bó bền chặt của Đảng, Nhà
nước với Nhân dân nói chung và đồng bào có đạo nói riêng là mối quan hệ đặc
biệt, như cây với cội, như nước với nguồn, Nhân dân là nguồn sức mạnh là chỗ
dựa vững chắc của Đảng, Nhà nước.
- Mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh là điểm tương đồng để gắn bó đồng bào các tôn giáo với
sự nghiệp chung. Chấp nhận những điểm dị biệt của nhau để hướng tới cùng nhau
xây dựng CNXH ở nước ta.
- Công tác vận động quần chúng các tôn giáo
nêu cao tinh thần yêu nước, ý thức bảo vệ độc lập thống nhất toàn vẹn lãnh thổ,
chủ quyền quốc gia (tạo sự đồng thuận xã hội tạo nên sức mạnh của toàn dân vào
sự nghiệp chung).
+ Bốn là: Công
tác tôn giáo là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị
Nước ta có hàng triệu tín đồ, chức sắc
nhà tu hành của các tôn giáo phân bổ ở mọi vùng miền, địa phương của cả nước vì
vậy công tác tôn giáo liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, đến nhiều lĩnh vực
của đời sống xã hội. Do đó, làm tốt công tác tôn giáo là trách nhiệm của toàn
bộ hệ thống chính trị do Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, MTTQ và các đoàn thể
vận động….
+ Năm là: Vấn đề
theo đạo và truyền đạo
- Mọi tín đồ đều có quyền
tự do hành đạo tại gia đình và cơ sở thờ tự hợp pháp theo quy định của pháp
luật.
- Các tổ chức tôn giáo hợp pháp được
hoạt động tôn giáo theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo hộ.
- Việc truyền đạo cũng như mọi hoạt
động tôn giáo khác đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; không được lợi
dụng tôn giáo tuyên truyền tà đạo, hoạt động mê tín dị đoan, không được ép buộc
người dân theo đạo.
II.
CHÍNH SÁCH PHÁP LUẬT CỦA NHÀ NƯỚC VỀ TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO
Sau khi có các quan điểm, đường lối,
Nghị quyết về công tác tôn giáo của Đảng, Nhà nước đã thể chế hóa trong các quy
định của pháp luật. Trước hết phải kể đến Điều 70 chương V Hiến pháp năm 1992
về quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đã khẳng định “công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một
tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Những nơi thờ tự của
các Tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. Không ai được xâm phạm tự do
tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm trái pháp luật
và chính sách của Nhà nước”.
Cùng với việc khẳng định trong Hiến
pháp, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/NĐ-CP ngày 21/3/1991 về các hoạt động
tôn giáo. Nghị định số 26/NĐ-CP ngày 19/4/1999 để cụ thể hóa các hoạt động tôn
giáo theo khuôn khổ pháp luật. Đặc biệt là Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XI đã
ban hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo ngày 18/6/2004 sau đó Chính phủ đã ban
hành Nghị định số 22/NĐ-CP ngày 01/3/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của
Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định số 92/NĐ-CP ngày 08/11/2012, quy
định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo. Chỉ thị
01/2005/CT-TTg của TTCP về một số công tác đối với đạo Tin lành. Chỉ thị
1940/CT-TTg của TTCP về nhà đất liên quan đến tôn giáo. Căn cứ “Điều 24 Hiến
pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do Tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc
không theo một tôn giáo nào”. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc Hội khóa XIV
ngày 18/11/2016 kỳ họp thứ 2 thông qua có hiệu lực ngày 01/01/2018 và Nghị
định số 162/2017/NĐ-CP ngày 30 tháng 12 năm 2017 của Chính phủ quy định chi
tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo đã thể chế
hóa các đường lối, chủ trương, quan điểm của Đảng bằng chính sách pháp luật của
Nhà nước tạo hành lang pháp lý cho các tôn giáo hoạt động và là công cụ để Nhà
nước quản lý.
Tóm
lại: Ta có thể khẳng định Pháp luật về Tín ngưỡng, tôn giáo và các Nghị định,
Chỉ thị của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về Tín ngưỡng, tôn giáo đã thể hiện
nhất quán, xuyên suốt về chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước ta về quyền
tự do Tín ngưỡng, tôn giáo. Đây là một trong những quyền cơ bản của con người
đã được bảo hộ bằng pháp luật./.